Hiển thị các bài đăng có nhãn viem-gan-c. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn viem-gan-c. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 7 tháng 9, 2013

Thuốc điều trị viêm gan B mãn tính

Mục đích chính trong việc chữa trị bệnh viêm gan B mạn tính là giảm thiểu sự tăng trưởng của virut, ngăn ngừa sự xâm nhập của virut viêm gan B (HBV) vào tế bào gan. Tuy nhiên, mục tiêu tối hậu vẫn là loại bỏ hoàn toàn HBV ra khỏi cơ thể, bình thường hóa chức năng của gan, phục hồi chất lượng cuộc sống, kéo dài thời gian sống, loại bỏ các biến chứng suy gan, xơ gan và ung thư gan.
Thuoc dieu tri viem B mạn tính
Hiện nay, Cơ quan quản lý thuốc và thực phẩm Mỹ (FDA) trên cơ sở các hội nghị thỏa thuận của Hội gan mật thế giới và các châu lục đã chấp thuận chính thức để điều trị viêm gan B mạn tính các thuốc sau đây: thuốc tiêm interferon và pegylated interferon, các thuốc uống: lamivudin, adefovir dipivoxil và entecavir.
- Thuốc tiêm interferon: interferon là một chất hóa học quan trọng trong hệ thống miễn dịch cơ thể, giúp cho hệ thống miễn dịch nhận diện các virut hoặc các vi khuẩn có hại xâm nhập vào cơ thể để tấn công và tiêu diệt chúng. Interferon là loại thuốc đã được nghiên cứu và ứng dụng lâu năm nhất để điều trị viêm gan B mạn. Trên thị trường chính thức có 2 loại interferon: interferon alpha 2a (biệt dược roferol) và interferon 2b (biệt dược intron A). Thuốc tiêm dưới da trong 6 - 12 tháng. Trong những năm gần đây người ta bào chế ra một loại thuốc interferon mới, gọi là pegylated interferon (biệt dược pegasys, pegintron), công hiệu tốt hơn interferon và chỉ cần tiêm 1 lần 1 tuần. Interferon và peginterferon có tác dụng tốt trên khoảng 1/3 số bệnh nhân được điều trị.
Thuốc này có bất tiện là phải tiêm, giá thành đắt, lại có nhiều phản ứng phụ, có phản ứng nhẹ, chịu được (như đau, sốt nhẹ lúc mới tiêm, hiện tượng mệt mỏi giống như cảm cúm); có loại nặng hơn (ảnh hưởng đến máu, giảm hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu, ảnh hưởng tuyến nội tiết). Thuốc cũng không dùng được nếu gan đã bị xơ, chức năng kém. Vì vậy, phương pháp interferon cũng còn nhiều hạn chế, tuy vẫn là một phương pháp tốt, có thời gian sử dụng được xác định, có thể áp dụng, nhất là đối với người trẻ.
- Lamivudin (biệt dược epivir-HBV và zeffix) đã được sử dụng khoảng 10 năm nay. Thuốc có tác dụng ban đầu tốt trên nhiều bệnh nhân nhưng có nhược điểm là tỷ lệ kháng thuốc cao do biến đổi gen YMDD (mỗi năm khoảng 15-20%), đôi khi xảy ra cơn kịch phát bệnh, do đó làm trở ngại cho việc sử dụng lâu dài. Không nên dùng thuốc khi có thai vì thuốc có thể ảnh hưởng xấu đến sự tăng trưởng của thai.
- Adefovir dipivoxil (biệt dược hepsera) có công hiệu cả trong các chủng HBV hoàng đại cũng như các chủng đã kháng lamivudin. Tỷ lệ kháng adefovir thấp hơn kháng lamivudin rất nhiều, tuy nhiên, tỷ lệ này cũng đến 28% sau 5 năm. Adefovir có thể dùng điều trị lâu dài có kết quả và an toàn cao, tuy vậy cũng cần theo dõi chức năng thận bằng xét nghiệm creatinin.
- Entecavir (biệt dược baraclude) được chấp nhận gần đây nhất (đầu năm 2005), tỷ lệ kháng thuốc chưa thấy công bố sau 2 năm điều trị. Song, cũng có một số ít trường hợp kháng thuốc được phát hiện ở những ca đã kháng lamivudin. Những tài liệu đã được công bố cho thấy baraclude có công hiệu tốt đối với bệnh gan B mạn. Thuốc nên uống lúc đói, khi điều trị lâu dài cần theo dõi chức năng thận bằng xét nghiệm creatinin.
Đối với cả 3 loại thuốc uống đều không được ngừng thuốc một cách đột ngột nếu không được hướng dẫn của bác sĩ vì có thể gây ra những cơn bùng nổ của bệnh, gây ra những hậu quả tai hại.
Ngoài các thuốc được chính thức công nhận ở trên, còn có một số loại thuốc được sử dụng như:
Zadacin thymosin alpha 1 chữa viêm gan B bằng cách tăng cường hệ thống miễn dịch của cơ thể. Thuốc có thể tiêm dưới da, 2 lần mỗi tuần, tiêm riêng hoặc tiêm kèm với interferon hay thuốc uống lamivudin adefovir.
Cycloferon: thuốc uống của Liên bang Nga, được Bộ Y tế Việt Nam cho phép nhập. Thuốc uống ít tác dụng phụ, giá rẻ, dùng để kích thích cơ thể tạo ra interferon.
Các thuốc y học cổ truyền được phép của Bộ Y tế làm từ thảo mộc phyllantus amarus (như Liv 94, siro hebevera...), từ momordica cochinchinensis (như gacavit...).
Các thuốc này an toàn, giá phải chăng nhưng chưa có nhiều công trình nghiên cứu khoa học quốc tế xác nhận kết quả chính thức.
Tóm lại, các cách điều trị benh gan B mạn tính hiện nay chỉ có khả năng giảm thiểu sự tàn phá của virut HBV chứ không hoàn toàn loại bỏ virut ra khỏi cơ thể. Việc loại bỏ virut tuy có trường hợp đạt được nhưng là hãn hữu, không bảo đảm được. Vì thế, hơn lúc nào hết, phòng bệnh vẫn hơn chữa bệnh. Hiện nay nước ta đã sản xuất được vaccin phòng viêm gan B có hiệu quả, giữ vệ sinh đúng cách và tiêm chủng đúng phương pháp có thể ngăn ngừa được bệnh cho những người chưa bị bệnh viêm gan B mạn tính.

Thứ Sáu, 19 tháng 7, 2013

Viêm gan C có nên sinh em bé

Viêm gan C là một bệnh truyền nhiễm gây ra bởi virus viêm gan C (HCV), có ảnh hưởng đến tình trạng gan mà không có triệu chứng đặc biệt nào. Căn bệnh này có thể gây xơ gan và dẫn đến ung thư gan, đe dọa tính mạng của nhiều người. Hiện nay vẫn chưa có vacxin chủng ngừa viêm gan C. Vì thế mà rất phụ nữ đã bị nhiễm virus viêm gan C vô cùng lo lắng, không biết có nên sinh con không? Và liệu đứa trẻ sinh ra có bị nhiễm virus viêm gan C giống như mẹ không?
Theo các bác sĩ của Phòng khám chuyên Gan 12 Kim Mã: Mặc dù viêm gan C là căn bệnh nguy hiểm, hiện nay vẫn chưa có vacxin phòng bệnh nhưng tỷ lệ lây truyền từ mẹ sang con chiếm tỷ lệ không cao. Ngoài ra việc lây truyền còn phụ thuộc vào số lượng virus trong cơ thể người mẹ nhiều hay ít. Vì thế, nếu người mẹ điều trị tốt bệnh viêm gan C thì hoàn toàn có thể sinh con và tỷ lệ con bị nhiễm virus viêm gan C từ mẹ cũng rất thấp.
Sự lây truyền của virus viêm gan C từ mẹ sang con
Đối với bệnh viêm gan C, nguy cơ truyền bệnh từ mẹ sang con tăng theo mức độ nhiễm virus trong máu. Tỷ lệ chung là khoảng 5%, thấp hơn nhiều so với virus B (25% khi mẹ có xét nghiệm HBsAg dương tính và trên 90% khi mẹ có xét nghiệm HBeAg dương tính). Khả năng truyền bệnh khi thai ở trong tử cung là rất hiếm. Đa số trường hợp lây ở giai đoạn chu sinh. Phần lớn những đứa trẻ nhiễm HCV chu sinh thường không có triệu chứng và bình thường trong lúc còn nhỏ. Khi trẻ lớn hơn cần xét nghiệm thêm để tìm hiểu ảnh hưởng của nhiễm HCV.
Ở những người mẹ bị nhiễm virus viêm gan C mà đồng nhiễm HIV thì nguy cơ đứa con sinh ra cũng bị nhiễm HCV cao hơn nhiều, có thể lên đến 19%.
Mẹ bị viêm gan C có thể cho con bú?
Mẹ bị viêm gan C hoàn toàn có thể nuôi con bằng sữa mẹ
Theo các bác sĩ của Phòng khám chuyên gan 12 Kim Mã thì chưa có chứng cứ HCV lây qua đường sữa mẹ vì thế những người mẹ nhiễm virus viêm gan C hoàn toàn có thể nuôi con bằng sữa mẹ. Tuy nhiên các bác sĩ cũng khuyến cáo rằng: người mẹ nhiễm HCV không nên cho con bú khi thấy đầu vú bị nứt hoặc chảy máu, tốt nhất nên vắt sữa rồi cho con ăn để phòng tránh tối đa nguy cơ lây nhiễm sang cho đứa trẻ.
Phải làm gì để phòng tránh tối đa sự lây nhiễm virus viêm gan B từ mẹ sang con?
Trước khi quyết định có thai, phụ nữ mang virus viêm gan C cần phải điều trị một thời gian bằng thuốc kháng virus để làm giảm nồng độ của virus trong máu, từ đó làm giảm nguy cơ lây nhiễm từ mẹ sang con.
Trong quá trình mang thai, người mẹ không nên dùng thuốc điều trị viêm gan C vì thuốc có ảnh hưởng đến sức khỏe bà mẹ, thai nhi và trong khi sinh nở. Do vậy khi mang thai, tốt nhất là không dùng thuốc khi không cần thuốc (kể cả những thuốc bổ gan). Đồng thời người mẹ cần bồi dưỡng, ăn uống đầy đủ, giảm lao động… để nâng cao sức đề kháng.
Ngoài ra khi đứa trẻ sinh ra cần được tiêm vacxin viêm gan B trong vòng 24h đầu để hạn chế nguy cơ nhiễm virus viêm gan B sau này.
Đó cũng chính là khuyến cáo của các bác sĩ Phòng khám chuyên Gan 12 Kim Mã.
Phòng khám chuyên Gan 12 Kim Mã là phòng khám hàng đầu trong điều trị bệnh gan đã được Sở Y tế Hà Nội cấp phép hoạt động. Được trang bị máy móc và các thiết bị y tế hàng đầu thế giới, cùng với đội ngũ bác sĩ và chuyên gia hàng đầu trong điều trị bệnh gan, đặc biệt là viêm gan B và C. Phòng khám chuyên Gan 12 Kim Mã luôn là địa chỉ tin cậy của bệnh nhân.
Mọi thắc mắc về bệnh gan vui lòng liên hệ đến số điện thoại 04.3718.1999 để được các bác sĩ của Phòng khám chuyên Gan 12 Kim Mã giải đáp trực tiếp.

Thứ Năm, 11 tháng 7, 2013

Tóm lược về viêm gan siêu vi C

Một trong những vấn đề chính của viêm gan siêu vi C là 85% người nhiễm lần đầu (cấp tính) sẽ trở thành mạn tính. Khoảng 1/3 bệnh nhân nhiễm HCV mạn tính sẽ tiến triển thành xơ gan.
Ở Mỹ, nhiễm HCV là nguyên nhân thường gặp nhất của viêm gan mạn và biến chứng xơ gan do HCV là lý do thường gặp của ghép gan.
HCV là một trong nhiều loại virus (A,B,C,D và E) có thể gây viêm gan. HCV khác với các virus này.
Một trong những vấn đề chính của HCV là 85% người nhiễm lần đầu (cấp tính) sẽ trở thành mạn tính. Khoảng 1/3 bệnh nhân nhiễm HCV mạn tính sẽ tiến triển thành xơ gan.
HCV được lây truyền qua máu. Lạm dụng thuốc tiêm tĩnh mạch là phương thức lây truyền phổ biến nhất, trong khi nguy cơ lây qua quan hệ tình dục là rất thấp.
Thông thường bệnh nhân không có triệu chứng cho đến khi tiến triển đến có xơ gan. Tuy nhiên, vài bệnh nhân chỉ mệt mỏi và không có triệu chứng đặc hiệu khi không có xơ gan. Một ít bệnh nhân có triệu chứng ngoài gan.
Viem gan sieu vi C được chẩn đoán bằng xét nghiệm kháng thể kháng HCV, mà chẩn đoán được khẳng định bởi xét nghiệm dựa trên acid nucleic của virus. Số lượng virus không tương xứng với độ nặng của bệnh.
Sinh thiết gan đã từng dùng để đánh giá tổn thương gan (tổn thương tế bào gan và sẹo) và quan trọng trong tiên lượng và lên kế hoạch điều trị.
Những tiến bộ đáng kể đã có trong điều trị viêm gan. Đối bệnh nhân nhiễm genotype 2 hay 3, điều trị bằng interferon (interferon biến đổi) kết hợp ribavirin có thể đạt kết quả trên 80% bệnh nhân.
Điều trị bệnh nhân nhiễm genotype 1 có mức độ điều trị thành công với interferon biến đổi với ribavirin thì chỉ <50%, vẫn còn là thách thức.
Điều trị được khuyến cáo đối với bệnh nhân có RNA-HCV có thể tìm thấy, có xét nghiệm men gan tăng hằng định và bằng chứng của sẹo và ít nhất là viêm trung bình trên sinh thiết gan nhưng không có dấu hiệu của suy gan.
Điều trị cải thiện được tình trạng viêm và sẹo gan ở người đáp ứng duy trì và đôi khi cũng có ở người đáp ứng tái phát và không đáp ứng.
Thử nghiệm lâm sàng đang được thực hiện để đánh giá sự kết hợp yếu tố kháng virus khác và interferon biến đổi trong điều trị viêm gan siêu vi C.

Ngừng điều trị viêm gan C nên làm gì

Chào bác sĩ, Tôi năm nay 27 tuổi, bị mắc bệnh gan C. Tôi đã đặc trị được 14 tháng với hai loại thuốc kết hợp là Feronsure (inteferon) kết hợp với thuốc uống Razirax, kết quả xét nghiệm định lượng sau 2 tháng điều trị âm tính, và các xét nghiệm định lượng sau mỗi 6, 9, 12 tháng đều âm tính.
Cho tôi hỏi phác đồ điều trị cơ bản với loại thuốc này tối thiểu là bao nhiêu tháng, (vì bác sĩ bảo duy trì điều trị 18 tháng nhưng do hoàn cảnh kinh tế khó khăn tôi định dừng điều trị khi đủ 15 tháng). Sau khi ngưng điều trị thì còn phải dùng những loại thuốc đặc trị quan trọng nào nữa không? Trong ăn uống mình cần có những lưu ý gì?
(Kim Nga - kimnga...@yahoo.com)
ngừng điều trị viêm gan c nên làm gì

Chào bạn Kim Nga,
Thời gian điều trị viêm gan C có thể là 6 tháng đến 1 năm hoặc lâu hơn tùy thuộc vào kiểu gen (genotype) gì, tình trạng gan và đáp ứng điều trị ra sao. Trường hợp của bạn qua kết quả xét nghiệm cho thấy đáp ứng siêu vi là tốt nhưng rất tiếc là không đủ thông tin nên chúng tôi khó có thể tư vấn cụ thể cho bạn.
Điều trị viêm gan C có nhiều tác dụng phụ và chi phí cao tuy nhiên bạn nên cố gắng tuân thủ theo hướng dẫn của BS điều trị vì chỉ còn mấy tháng nữa thôi. Sau khi ngưng điều trị bạn vẫn cần theo dõi và xét nghiệm kiểm tra lại vì vẫn có trường hợp tái phát sau đó. Khi ngưng trị thì không cần dùng thuốc đặc trị nữa.
Về ăn uống chỉ cần duy trì chế độ ăn lành mạnh bình thường, tránh các thức uống có cồn. Trong thời gian điều trị nên tránh ăn quá no, có thể chia thành nhiều bữa nhỏ. Tập thể dục giúp giảm mệt mỏi, nếu khô da cần dùng thêm kem dưỡng ẩm, giữ tinh thần thoải mái tránh căng thẳng

Thứ Bảy, 23 tháng 3, 2013

Viêm gan siêu vi C không lây qua đường ăn uống

Viêm gan siêu vi C không lây qua đường ăn uống

Mẹ tôi 56 tuổi, bị bệnh viêm gan siêu vi C đã 6 năm. Mẹ tôi sử dụng chén, ly…riêng vì sợ lây bệnh cho chồng con. Mẹ tôi đã từng đi tiêm thuốc trị liệu, sau mỗi lần tiêm, mẹ tôi ăn rất ít, da xanh xao và người rất ốm.

Xin cho hỏi, liệu bệnh của mẹ tôi có thể hết hay không? Tôi chuẩn bị lập gia đình nhưng sợ vợ mình về thấy mẹ như vậy sẽ phân biệt đối xử. Chân thành cám ơn bác sĩ. (ducthinh86)

Trả lời:

Bạn Đức Thịnh thân mến!

Virus bệnh viêm gan C là virus có nguy cơ xâm nhập vào gan, có thể gây viêm gan, xơ gan, ung thư gan nếu không được điều trị kịp thời. Theo như bạn mô tả, tôi nghĩ mẹ bạn đang được điều trị đặc hiệu bằng thuốc tiêm với liệu trình từ 6 tháng đến 1 năm. Thuốc điều trị đặc hiệu có rất nhiều tác dụng phụ làm bệnh nhân mệt mỏi, khó chịu…do đó bệnh nhân phải tuân thủ theo dõi điều trị theo hướng dẫn của bác sĩ.

Virus viêm gan C không lây theo đường tiêu hóa mà có thể lây theo đường máu, đường tình dục hoặc từ người mẹ truyền sang con lúc sanh. Vì vậy, để hạn chế lây nhiễm: trong gia đình không nên sử dụng chung những vật dụng có nguy cơ gây chảy máu như dao cạo râu, kềm cắt móng tay, bàn chải đánh răng...

Virus không lây theo đường ăn uống nên bạn không cần cho mẹ ăn uống riêng để tránh phân biệt đối xử. Bản thân bạn, là người con hiếu thảo bạn nên thông cảm với mẹ, giúp mẹ vượt qua những khó khăn trong thời gian điều trị để đạt được kết quả tốt.

Chúc mẹ bạn mau lành bệnh.